Chào mừng bạn đến với Bệnh viện Đa khoa Hồng Hà

Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung – Bệnh viện Đa khoa Hồng hà

Ngày đăng: 15/02/2020 | Lần cập nhật cuối: 18/09/2020

Mất 30 giây để đọc
Tư vấn y khoa: BS Nguyễn Tiến Sơn »    |   Tác giả: Trần Công »

1. GIỚI THIỆU

Ung thư CTC là một trong những loại ung thư phổ biến ở phụ nữ. Đa số ung thư CTC đều trải qua giai đoạn tiền ung thư được gọi là CIN (intraepithelial neoplasia – CIN).

Mục đích của sàng lọc là phát hiện những tổn thương tiền ung t trước khi chúng trở thành ung thư.

Số phụ nữ từ 15-19 tuổi có CIN đáng kể là rất thấp, chỉ có 4 trường hợp được phát hiện trong giai đoạn từ năm 1998-2002 (0,3%). Phụ nữ từ 20-29 tuổi chiếm 10,0% trong tổng số CIN3 trong khi ở phụ nữ trên 70 tuổi là 1,5%.

Đối với ung thư CTC xâm lấn từ năm 1998-2002, chỉ có 5 trường hợp xảy ra ở phụ nữ dưới 25 tuổi độ tuổi (0,5%). Tổng số 214 trường hợp xảy ra ở phụ nữ trên 70 tuổi (21,3%).

Các yếu tố nguy cơ Nhiễm HPV là một trong những nguyên nhân cần thiết cho ung thư CTC. Gần đây, các vaccin đã được phát triển chống lại hai chất gây ung thư là các loại HPV (HPV-16 & HPV-18) chiếm 70% trong số tất cả các khối u ung thư CTC.

2. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

1. Nhiễm HPV

2. Nhiễm virut gây suy giảm miễn dịch ở người

3. Tiêm chích ma túy

4. Nhiều bạn tình (ở một trong hai người)

5. Quan hệ tình dục sớm

6. Lịch sử mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm trùng

7. Sử dụng thuốc tránh thai uống kết hợp lâu dài

8. Hút thuốc lá

Những nhóm phụ nữ ít có nguy cơ mắc ung thư CTC:

1. Phụ nữ chưa bao giờ quan hệ tình dục

2. Phụ nữ đã cắt tử cung trong đó CTC đã được cắt bỏ

3. AI NÊN ĐƯỢC SÀNG LỌC?

1. Tuổi để bắt đầu sàng lọc

Tất cả những phụ nữ đã từng quan hệ tình dục nên được sàng lọc ung thư CTC từ 25 tuổi.

Lý do cho việc khởi đầu sàng lọc là: HPV là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do virus và tổn thương khởi phát của CTC quan trọng sẽ không được phát hiện từ 3-5 năm sau khi phơi nhiễm và ung thư CTC xâm lấn kéo dài vài năm để phát triển.

Phụ nữ dưới 25 tuổi được coi là có nguy cơ cao hoặc tự cho mình là có nguy cơ cao có thể thực hiện sàng lọc nếu thích hợp.

2. Tuổi để ngừng sàng lọc

Một phụ nữ có thể được ngừng sàng lọc ở tuổi 69 nếu lần sàng lọc khi 69 tuổi là âm tính và đã có 2 lần sàng lọc âm tính liên tiếp trước đó trong vòng 10 năm qua.

Tuy nhiên, những phụ nữ trên 69 tuổi có quan hệ tình dục và chưa bao giờ làm Pap smear nên được sàng lọc.

Khuyến cáo trước đây trong Hướng dẫn thực hành lâm sàng của Bộ Y tế 6/2003: Khám nghiệm sức khoẻ, đã ngừng sàng lọc ở tuổi 65. Điều này đã được sửa đổi đến 69 tuổi để phù hợp với các khuyến cáo về chấm dứt sàng lọc ung thư vú.

Tần suất sàng lọc Pap smear nên được thực hiện ít nhất 3 năm một lần. Khuyến cáo này không áp dụng cho những phụ nữ có biểu hiện bất thường CTC đang theo dõi với một bác sĩ phụ khoa. Lợi ích về khoảng cách sàng lọc phụ thuộc vào tuổi của phụ nữ được sàng lọc.

Nghiên cứu kiểm soát trường hợp đã tính toán nguy cơ tương đối của ung thư CTC theo khoảng thời gian sàng lọc trong ba nhóm tuổi: 20-39 tuổi, 40-54 tuổi và 55-69 tuổi.

Trong nhóm tuổi 20-39, sàng lọc hàng năm sẽ ngăn ngừa 76% số trường hợp mắc bệnh ung thư CTC, so với 61% đối với sàng lọc 3 năm và 30% cho sàng lọc 5 năm.

Đối với phụ nữ từ 40-54 tuổi, sàng lọc hàng năm sẽ ngăn chặn 88% trường hợp ung thư so với 84% đối với sàng lọc 3 năm. Ở nhóm tuổi 55-69, sàng lọc hàng năm sẽ ngăn chặn 87% so với 83% đối với việc sàng lọc 5 năm.

3. Các trường hợp đặc biệt:

  • Những phụ nữ đã cắt tử cungCTC cắt bỏ vì các nguyên nhân lành tính không cần phải sàng lọc, trừ khi có tiền sử bệnh lý CTC trước. Việc không có CTC nên được xác nhận bằng hồ sơ bệnh án hoặc khám lâm sàng. Nếu việc cắt bỏ tử cung là không chắc chắn, sàng lọc có thể được thực hiện theo chỉ định của bác sĩ lâm sàng.
  • Phụ nữ bị suy giảm miễn dịch: Có bằng chứng cho thấy các phụ nữ suy giảm miễn dịch và HIV dương tính có nguy cơ ung thư CTC cao hơn và do đó nên được kiểm tra thường xuyên hơn. Phụ nữ bị suy giảm miễn dịch hoặc HIV dương tính nên được sàng lọc hàng năm và có thể sàng lọc sớm hơn. Phụ nữ đã tiêm phòng vắc-xin HPV nên tiếp tục được sàng lọc cùng một khoảng thời gian. Vắc-xin HPV không ngăn ngừa được ung thư CTC bởi vì chúng chủ yếu nhắm đến hai loại HPV gây ung thư phổ biến nhất (Loại 16 và 18). Những phụ nữ đã được tiêm phòng vẫn có nguy cơ nhiễm bệnh từ các loại ung thư khác và do đó nên tiếp tục được sàng lọc.

4. SÀNG LỌC CẦN LÀM GÌ?

Papanicolaou (Pap) smear là phương pháp sàng lọc đáp ứng các tiêu chuẩn cho một kết quả sàng lọc có hiệu quả (Tiêu chuẩn Tổ chức Y tế Thế giới). Nó giúp phát hiện sớm, góp phần cho sự suy giảm mạnh mẽ về tỷ lệ mắc bệnh ung thư CTC ở các nước đã thực hiện các chương trình kiểm tra toàn diện.

Có hai dạng của xét nghiệm Pap smear:

  • Xét nghiệm Pap cổ điển: liên quan đến việc bôi tế bào CTC trực tiếp lên một tấm kính và gắn với cồn trước khi gửi bệnh phẩm đến phòng thí nghiệm. Về mặt lâm sàng, xét nghiệm Pap smear không nhạy cảm với phát hiện CIN hoặc ung thư và phải được lặp đi lặp lại trong những khoảng thời gian thường xuyên để đạt được hiệu quả. Trong phân tích meta, một số nghiên cứu cho thấy độ nhạy của các xét nghiệm Pap cho việc phát hiện CIN2-3 là 51% (95% CI, 37-66%) và đặc hiệu 98% (95% CI, 97-99%).
  • Xét nghiệm sàng lọc DNA của HPV: phương pháp này được chứng minh là nhạy cảm hơn, nhưng ít đặc hiệu hơn cytology thông thường. Vai trò của việc sử dụng thường xuyên xét nghiệm sàng lọc DNA của HPV đang được nghiên cứu trong một số thử nghiệm lâm sàng đang diễn ra. Vào thời điểm hiện tại, không được khuyến cáo thực hiện. Sàng lọc nên được thực hiện bằng phương pháp Papanicolaou (Pap) smear. Có thể sử dụng phương pháp cytology thông thường hoặc cytology dựa trên chất lỏng.

5. HIỆU QUẢ CỦA SÀNG LỌC

Cần phải thực hiện một chương trình sàng lọc CTC trên toàn quốc thu thập dữ liệu từ tất cả các xét nghiệm Pap smears.

Một chương trình sàng lọc ung thư CTC thực hiện trên cộng đồng có cơ chế bảo hiểm và thu hồi tốt làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư CTC so với việc khám tự phát hiện. (Theo Báo cáo Điều tra Hộ gia đình của Bộ Y tế năm 2004 cho thấy 84% phụ nữ có ít nhất một lần làm Pap smear).

Kiểm soát hiệu quả về chi phí: Một chương trình sàng lọc CTC trên cộng đồng có tổ chức làm giảm không chỉ về số ca tử vong do ung thư CTC, mà còn làm giảm chi phí cho việc thăm khám, chăm sóc, điều trị bệnh.

Một nghiên cứu gần đây, so sánh các chiến lược sàng lọc cho thấy đối với tất cả các chiến lược sàng lọc dựa trên cytology, sàng lọc cá nhân/cơ hội là tốn kém hơn và kém hiệu quả hơn so với một chương trình sàng lọc có tổ chức 3, 4 và 5 năm một lần.

Có 0 bình luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐĂNG KÝ MESSENGER
<< Địa chỉ
Gọi điện
Tư vấn
Chat zalo